welcome to

Bất Động Sản Việt Nam

Bất Động Sản Việt Nam.

Investing in Vietnam


Tại sao nên đầu tư vào Việt Nam ?

Thị trường BĐS Việt Nam được giới chuyên gia và nhà đầu tư nhận định là thị trường tiềm năng bởi nền tảng kinh tế vững mạnh thể hiện qua các con số như GDP tăng cao, dân số ngày càng tăng, và cơ sở hạ tầng được cải thiện và đầu tư xây dựng với quy mô lớn, hiện đại, Tỷ lệ đô thị hóa cao. Trong đó có các thành phồ trọng điểm ở Việt Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng .

Những lý do để bạn nên đầu tư vào Việt Nam ngay hôm nay:

  • Là địa điểm cư trú thứ hai lý tưởng cho bạn.
  • Thị trường đầu tư ổn định
  • Thị trường giàu tiềm năng sinh lợi
  • Giá cả linh hoạt

Why invest vietnam


Việt Nam - Thị trường đầu tư trọng điểm của CapitaLand

Với hơn 20 năm kinh nghiệm tại Việt Nam, CapitaLand là một trong những nhà đầu tư quốc tế hàng đầu tại Việt Nam. Trong những năm qua, CapitaLand đã cung cấp và xây dựng hàng loạt các dự án nhà ở chất lượng ở Việt Nam. Với mỗi dự án, CapitaLand không chỉ trau chuốt về thiết kế độc đáo, sống động, tiện nghi mà còn tạo ra một phương châm nhà ở "Xanh, Sạch, Đẹp", thân thiện với môi trường.

CapitaLand cam kết là một nhà đầu tư bất động sản lâu dài tại Việt Nam và nỗ lực đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam với mục tiêu "Xây dựng con người, kiến thiết cộng đồng".


Vietnam Housing Law

Luật nhà ở mới Phát hành tại Việt Nam

Luật Nhà ở có hiệu lực từ ngày 01 tháng bảy năm 2015 - Mở cửa thị trường bất động sản Việt Nam cho người nước ngoài sở hữu.

CÁ NHÂN

Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự được sở hữu và mua nhà ở riêng ở các dự án bất động sản trong nước Việt Nam.

DOANH NGHIỆP

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam có đủ điều kiện để mua bất động sản tại Việt Nam.

CÁC TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI

Luật Nhà ở mới cho phép các tổ chức nước ngoài đủ điều kiện và cá nhân để mua và sở hữu tất cả các các lĩnh vực thuộc về dân cư nhà ở bao gồm căn hộ và biệt thự và nhà liền kề (trước đây chỉ áp dụng đối với căn hộ).


SỐ LƯỢNG SỞ HỮU

  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 30% tổng số căn hộ của một tòa nhà chung cư; trường hợp trên một địa bàn có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường mà có nhiều tòa nhà chung cư để bán, cho thuê mua thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 30% số căn hộ của mỗi tòa nhà chung cư và không quá 30% tổng số căn hộ của tất cả các tòa nhà chung cư này.
  • Trường hợp chỉ có một dự án có số lượng nhà ở riêng lẻ dưới 2.500 căn thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 10% tổng số lượng nhà ở trong dự án đó; Trường hợp chỉ có một dự án có số lượng nhà ở riêng lẻ tương đương 2.500 căn thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 250 căn; Trường hợp có từ hai dự án trở lên mà tổng số nhà ở riêng lẻ trong các dự án này ít hơn hoặc bằng 2.500 căn thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 10% số lượng nhà ở của mỗi dự án.

  • MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG

    Các nhà ở, tài sản thuộc sở hữu của người nước ngoài có thể được bán, cho thuê lại, thừa kế và thế chấp (trước đây chỉ dành cho mục đích ở).

NGHỊ ĐỊNH 99 VỀ LUẬT NHÀ Ở MỚI

Theo Nghị định 99 về nhà ở ban hành ngày 20 Tháng Mười năm 2015, người nước ngoài có thể xin gia hạn lên đến tối đa thêm 50 năm nữa, tổng cộng thời gian sở hữu lên đến 100 năm. Bán các đơn vị để được phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

Nếu cho cá nhân Việt quốc gia hay Việt kiều, người mua như vậy sẽ có quyền sở hữu toàn quyền sử dụng. Nếu một cá nhân nước ngoài, người mua như vậy sẽ được hưởng khoảng thời gian còn lại của quyền sở hữu nước ngoài và đổi mới phải.
  • Nếu cho cá nhân có Quốc tịch Việt Nam hoặc Việt Kiều, người mua sẽ được toàn quyền sở hữu nhà ở vĩnh viễn.
  • Nếu là cá nhân nước ngoài, người mua sẽ được sở hữu trong một khoảng thời gian là 50 năm và có thể gia hạn thêm tối đa 50 năm nữa.

Nhiệm kỳ

Cá nhân nước ngoài quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 159 của Luật Nhà ở được sở hữu nhà ở tối đa không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận; khi hết thời hạn sở hữu nhà ở ghi trong Giấy chứng nhận, nếu chủ sở hữu có nhu cầu gia hạn thêm thì được Nhà nước xem xét, gia hạn thêm theo quy định tại Điều 99 của Nghị định này.